Bài viết
Tra Bệnh theo vần

A Ă Â B C D Đ E Ê F G H I J K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z

Loét dạ dày

Loét dạ dày (peptic ulcer)

TS. Nguyễn Thế Dân

Loét là một tổn thương mất tổ chức ăn sâu tại chỗ ở một vùng nào đó của da hoặc niêm mạc.
Loét dạ dày là tổn thương mất lớp niêm mạc ăn sâu qua lớp cơ niêm, hạ niêm mạc hoặc xuống tận lớp cơ thành dạ dày.
Nguyên nhân loét dạ dày:
- Vai trò acid, pepsin.
- Vai trò Helycobacter pylori: sinh enzym urease phá huỷ TB niêm mạc dạ dày
- Yếu tố tinh thần
- Yếu tố ăn uống
- Thuốc lá
- Hậu quả của viêm dạ dày mạn tính
Phân loại: 2 loại
+ Loét dạ dày cấp tính
+ Loét dạ dày mạn tính
Loét dạ dày cấp
Nguyên nhân loét dạ dày cấp:
- Thường phát triển từ viêm chợt dạ dày cấp (acute erosive gastritis).
- Shock, stress (bỏng nặng hoặc tăng áp
lực sọ).
- Dùng nhiều thuốc kháng viêm steroid.
- Say rượu nôn mửa nhiều...
Hình thái ổ loét dạ dày cấp:
- Loét gặp ở bất kỳ vị trí nào của dạ dày, có thể
1, nhưng thường nhiều ổ khắp dạ dày.
- Loét thường nhỏ <1 cm, hình tròn, tổn thương mới đến hạ niêm mạc.
- Niêm mạc xung quanh ổ loét phù nề xung
huyết, ít TB viêm. TB biểu mô phủ tăng chế tiết, không bị teo đét hoặc quá sản.
- Đáy ổ loét có chất hoại tử lẫn máu hoặc chất
nhày, có thể có lớp mô hạt mỏng, ít TB, ít mạch máu tân tạo.

Viêm dạ dày cấp (vết chợt)


Loét dạ dày cấp


Loét dạ dày mạn tính



Loét dạ dày mạn tính
Loét mạn tính thường gặp ở tá tràng hơn dạ dày (3/1).
Loét tá tràng gặp ở đoạn đầu sát môn vị, thành trước tá tràng hay bị tổn thương hơn thành sau.
Loét dạ dà thường ở bờ cong nhỏ, vùng tiếp giáp thân vị và hang vị. Thành trước và bờ cong lớn ít bị hơn.
Kích thước ổ loét: <0,3 cm thường là vết chợt. >0,6 cm là loét thực sự. 50% ổ loét <2 cm, 75% ổ loét <3 cm. Loét >4 cm thường loét ác tính ung thư hoá.
Hình thể ổ loét dạ dày mạn tính:
- Hình tròn, bầu dục, bờ gọn, niêm mạc bờ ổ loét tăng sản phủ chờm vào ổ loét.
- Loét mới, vùng rìa ổ loét bằng niêm mạc vùng xung quanh, không có riềm rõ. Ổ loét có hình lòng chảo, mềm do viêm chưa phát triển.
- Loét cũ vài năm,niêm mạc rìa ổ loét nổi gồ cao, bờ thẳng đứng, loét có hình cốc, nắn chắc do xơ phát triển. Niêm mạc xung quanh có xu hướng quy tụ về ổ loét.
- Loét xơ trai: loét rộng, sâu, bờ thẳng đứng, đáy nhẵn, trắng, rắn, chắc. Niêm mạc nhăn nhúm, thô. Loét sâu đến lớp cơ hoặc thủng thanh mạc, dính vào tụy, mạc nối.
Loét dạ dày mạn ung thư hoá


Loét dạ dày mạn


Loét dạ dày mạn



Hình ảnh vi thể: ổ loét có 4 lớp
+ Lớp hoại tử: mảnh vụn TB, tơ huyết, BCĐN thoái hoá.
+ Lớp hoại tử dạng tơ huyết: là lớp đặc
trưng của ổ loét, có nhiều tơ huyết, BCĐB.
+ Lớp mô hạt: Nhiều TB sợi non, sợi tạo keo, mạch máu tân tạo, các TB viêm.
+ Lớp xơ hoá: nhiều TB sợi, mạch máu thành dày, TB lympho.

HẢ vi thể loét dạ dày mạn tính


HẢ vi thể loét dạ dày mạn tính



HẢ vi thể loét dạ dày mạn tính


HẢ vi thể loét dạ dày mạn tính



Loét lành sẹo:
- Hoại tử ít dần, mô hạt phát triển lấp đầy
ổ loét. Bề mặt ổ loét có biểu mô phủ nhưng không có tuyến.
- Cơ niêm tăng sinh và bi khuyếch tán, hạ niêm mạc xơ hoá.
- Xơ phát triển lan rộng, ít TB viêm.
- Lớp cơ teo đét, bị kéo dúm về phía loét thành sẹo.


+ Biến chứng loét dạ dày:
- Chảy máu: mạn hoặc cấp tính.
- Thủng dạ dày: gây viêm phúc mạc toàn
thể hoặc khu trú.
- Chít hẹp, biến dạng dạ dày: hẹp môn vị,
dạ dày hai túi (hình đồng hồ cát).
- Ung thư hoá: loét lơn, loét xơ trai, loét
bờ cong nhỏ hay ung thư hoá.

 

Các bài viết khác


Lên đầu trang